LUẬN ÁN DỰ THI HỒNG ÐAI I CẤP
 của Võ sư Nguyễn Anh Dũng


CHƯƠNG IV : PHƯƠNG PHÁP HUẤN LUYỆN QUYỀN

    A./ KHÁI NIỆM:

Quyền là bài múa võ, gồm một chuổi nhiều động tác mang tính chiến đấu, được ghép liên tiếp với nhau nhằm mục đích giúp người tập quen thuộc các lối đánh đỡ, đấm đá, di chuyển thăng bằng, linh hoạt, các vận khí phát lực, thân thể được rắn chắc, khí huyết lưu thông.

Một bài quyền thông thường mang 2 tính chất:

  1. Chiến đấu

  2. Luyện thể

Và ở những bài cao cấp lại mang thêm tính triết học, mỗi một động tác đều mang ý nghĩa sâu xa, phục vụ cho một chủ đề hoặc một trtiết lý nào đó, giúp cho tâm hồn người tập thêm khoáng đạt,lâng lâng thâm viễn.

    B./ NGHỆ THUẬT MÚA QUYỀN :

Múa quyền được nâng lên hàng nghệ thuật, là thước đo trình độ võ của một người, nó đòi hỏi nhiềumặt: động tác chuẩn mc, điêu luyện, tấn cước vững vàng, nhanh nhẹn, thân hình mềm mại uyển chuyển và phải thể hiện làm sao cho tất cả hòa quyện lại, để toát lên được cái màu sắc, cái ý nghĩa thâm sâu của bài quyền, làm cảm thông được người xem. Muốn thế ta phải tập kỹ từng phần một:

        1/. Về thủ pháp: 

Gồm những động tác của tay như: gạt, đỡ, đấm, chém, xỉa, chộp, chỏ...
Ðộng tác thuộc thủ pháp phải đạt 3 yếu tố:

a/. Ðúng quỹ đạo:

Phải xác định thật chuẩn đường đi một động tác từ lúc bắt đầu cử động cho đến lúc dứt động tác, tư hế ban đầu và tư thế sau cùng của bàn tay trong động tác đó.
Thí dụ: Quỹ đạo của thế đấm thẳng phải.
Nấm tay di chuyển trên đường thẳng xuất phát từ sườn đi thẳng đến mục tiêu.
Tư thế đầu tiên nắm chặt tay, đặt ngữa sát vào sườn, di chuyển đến mục tiêu thì úp lại, cổ tay thẳng với cánh tay, nắm đấm tròn và chắc.
Lúc đầu tập chậm để thành thói quen, sau đó nhanh dần.

b/. Tốc độ phát đòn:

Không nên vận lực sớm quá vì sự lên gân trước khi đánh làm cho động tác thành nặng nề, trì trệ. Trước khi phát đòn tay để mềm, khi tới mục tiêu mới vận sức cứng lên.

c/. Lực phát đòn: gồm 2 tiêu chuẩn:

  • Sức mạnh của đòn: Phải phối hợp được 3 lực 

    • Lực co duỗi của cơ bắp

    • Quán tính trọng lượng của thân thể

    • Sự xoay lắc của hông và vai.

    • Như vậy ta sẽ đạt được sức mạnh cao nhất của thế đánh (bài tập hợp lực).

  • Sức chịu của tay: Khi va chạm vào mục tiêu, tay ta bị tác động bởi một phản lực tùy theo sức mạnh của đòn. Nếu bàn tay không được luyện cho rắn chắc thì chính ta sẽ bị đau đớn, hoặc thương tật (bài tập tay thép).

        2. Bộ pháp: Gồm 2 phần Tấn và Cước.

  1. Tấn: Gồm các tư thế đứng đi, di chuyển đặc biệt, chỉ có trong võ thuật. Luyện tấn vững người ta có được khả năng giữ thăng bắng tốt, di chuyển linh hoạt, vững vàng, tiến thoái đúng khuôn phép.

  2. Cước: là sự tấn công của chân, thể hiện bằng các lối đá, đạp, gối v.v... Phải đạt các tiêu chuẩn: Ðúng quỹ đạo, nhanh, cao , mạnh.

Muốn vậy phải có những bài tập giúp gân chân được mềm dẻo, các khớp xương được mỡ rộng biên độ, cơ bắp co duỗi nhanh chóng....

        3. Thân pháp: 

Thân hình phải mềm mại, uyển chuyển, thể hiện sụ xoay lắc, luồn lách một cách linh hoạt, gọn gàng, làm chủ được trọng tâm, thăng bằng tốt.

        4. Nhĩ pháp:

Hơi thở phải điều hoà, phù hợp với các độntg tác của bài quyền. thông thường động tác thể hiện sự mềm mại, thu vào thì hít; mạnh bạo, đánh ra thì thở.

        5. Nhãn pháp: 

Ánh mắt phải đảo theo hướng đánh, tưởng tượng như đang lâm chiến thật sự. Không nên nhìn chăm chăm xuống đất hay nhìn cứng nhắc vô hồn ở một phía nào đó.

        6. Tâm Pháp: 

Thể hiện sự thông tuệ trong lúc múa quyền, động tác được diễn tả bằng sự hiểu biết có chiều sâu, toát được tinh thần của bài quyền trong lúc thi triễn. Không nên tập môm na, mô phỏng để rồi chỉ thuộc bài mà không nắm được ý nghĩa.

    C./ NĂM BƯỚC HUẤN LUYỆN:

1.      Bước chuẩn bị: 
Tập kỹ từng thế đấm, gạt, đỡ, đá, đạp cơ bản, đồng thời các lối tấn phải được hiểu và thực hành thật kỹ qua các bài tập di chuyển để tránh cho võ sinh tình trạng chỉ biết đứng tấn chứ không biết hành tấn. Tập phối hợp hít thở với động tác ngay trong bước chuẩn bị này.

2.      Thuộc bài: Dạy bài quyền từng động tác và cho võ sinh đánh chậm đồng loạt theo lời hô. Ở bước nầy việc học chỉ có tính mô phỏng.

3.      Kết hợp với ý:
Giải thích ý nghĩa của từng cụm động tác và cho võ sinh thực hiện trọn ý trong một tiếng đếm.
Thí dụ: Trong bài TỨ TRỤ thực hiện cụïm động tác phản đấm thẳng phải trong 1 tiếng đếm sau đó lần lượt đến đấm thẳng trái, đấm móc phải ...Nên nhắc nhở người tập liên tưởng đến ý nghĩa của cụm động tác trong thực hiện.

4.      Kết hợp với khí:
Sự hít thở được đưa vào từng cụm động tác theo nguyên tắc: yếu, nhẹ, mềm thì hít vào - cứng, mạnh, nhanh thì thở ra. Tuy nhiên sự vận dụng đừng nên gò bó, cứng nhắc, chủ yếu hơi thở được điều hòa và tuỳ theo cụm mà sắp xếp một hay nhiều động tác trong một hơi thở.

5.      Kết hợp với thần: 
Bằng sự tập trung cao độ, các động tác được thực hiện với cả tinh thần, bộc lộ ra ánh mắt, nét mặt, dáng điệu, khi chậm lúc nhanh phải tùy theo tình huống đặt ra trong bài, để ta có được một phong cách diễn tả vừa dũng mãnh oai phong, vừa thông minh trí tuệ, toát ra được hồn của bài quyền, truyền cảm đến người xem.

 


PHẦN II

PHƯƠNG PHÁP HUẤN LUYỆN CHUNG

 

CHƯƠNG I: CHƯƠNG TRÌNH - GIÁO TRÌNH - GIÁO ÁN

    A./ PHÂN BIỆT CHƯƠNG TRÌNH VÀ GIÁO TRÌNH:

Chương trình huấn luyện của Việt Võ Ðạo là một sự qui định và sắp xếp có thứ tự những đòn thế, kỹ thuật, bài bản cho cả một hệ thống đẳng cấp từ thấp đến cao. Mỗi cấp có một chương trình huấn luyện riêng và liên quan với nhau trên quan điểm từ dể đến khó, từ đơn ggiản đến phức tạp.

Căn cứ trên chương trình huấn luyện, người HLV soạn ra một giáo trình huấn luyện thật phù hợp với thực tế. Các nội dung huấn luyện không nhất thiết phải thực hiện theo thứ tự qui định của chương trình. Thí dụ: Trong chương trình Tự Vệ Nhập Môn có 4 lối chém, 4 lối đấm, 4 lối đánh chỏ. Ta có thể dạy chém số 1, đấm thấp, chỏ số 1 và sau đó ghép lại thành Chiến lược số 1, chứ không nên dạy khô khan tuần tự theo chương trình.

Vì đặc điểm nêu trên việc biến chương trình thanh giáo trình là điều cần thiết trong công tác huấn luyện.

    B./ CÁCH SOẠN GIÁO TRÌNH CẤP TỰ VỆ NHẬP MÔN :

Ðối với cấp tự vệ nhập môn, người HLV cần phải soạn giáo trình thật kỹ lưỡng, vì đây là giai đoạn quan trọng nhất để đưa một người chưa biết gì về Võ đi vào khung trời cao rộng mênh mông của võ Thuật và Võ Ðạo. Người võ sinh mới nhập học thường mang tâm trạng mong muốn một cách nôn nóng được học nhanh học nhiều, song song với sự rụt rè, nhát sợ và tình trạng cơ bắp chưa hoàn thiên, cũng như cái nhìn về võ thuật đôi khi bị lệch lạc qua sự cường điệu của tiểu thuyết hoặc phim ảnh.

Ðể soạn cho được một giáo trình phù hợp với điều kiện tâm sinh lý của võ sinh, ta tạm thời phân chương trình làm 2 phần cần được tiến hành song song:

  1. Thuộc về thuật: Như thủ pháp, bộ pháp, cước pháp, các đòn tấn công, phản công, các thế khoá gỡ, đòn chân....

  2. Thuộc về cơ bắp: Như cơ cổ, cơ lưng, cơ bụng, vai, bắp tay, bắp chân, các khớp như cổ tay, khuỹu, cổ chân, gối khớp chậu....

Muốn thực hiện khéo léo và hiệu quả những động tác thuộc về thuật, người ta cần phải có những nhóm cơ bắp liên hệ thật hoàn thiện để phục vụ (các bài tập hổ trợ: Bài tập Con Tôm, Lăn Ngựa Gổ. Tay thép, bài tập dẻo chân, bài phát triển nội lực, bài học về hợp lực ...)

Phần thuộc vể thuật được chia làm 3:

  • Kỹ thuật đơn: Như các lối gạt, chém, đấm chỏ, gối, đá đạp, tấn....

  • Kỹ thuật ghép chính: Các đòn chiến lược, đòn cơ bản, quyền, đòn chân...

  • Kỹ thuật ghép phụ: Các thế khoá gỡ, khoá tay dắt, bắt bẻ...

Sở dĩ phải phân chương trình ra như vậy để ta dễ dàng sắp xếp giáo trình đi theo một tuần tự hợp lý dựa trên các nguyên tắc sau: 

  • Tiến trình luyện tập đồng thời cả 2 mặt: thuật và hoàn thiện cơ bắp.

  • Các kỹ thuật được dạy từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.
    Thí dụ: Dạy chém, đấm trước khi dạy gạt tay. Dạy phản bóp cổ trước, trước khi dạy phản nắm ngực áo số 1.

  • Căn cứ trên các kỹ thuật ghép chính: để dạy các kỹ thuật đơn.
    Thí dụ: Căn cứ trên chiến lược số 1 để dạy chém số 1, đấm thẳng (htấp), chỏ số 1. Hoặïc: Căn cứ trên đòn đấm thẳng phải để dạy gạt tay số 1 (như vậy người tập sẽ thấy các kỹ thuật đơn được ứng dụng ngay bằng một kỹ thuật ghép).

  • Các kỹ thuật ghép phụ được dạy xen kẻ vớicác kỹ thuật ghép chính, mục đích:

    • Trong thời gian ôn luyện các phần chính cho thuần thục, võ sinh vẫn được học đòn thế mới, gây tâm lý hứng thú, siêng tập, bám lớp.

    • Như vậy thời gian sáu tháng luyện tập đầu tiên được coi là giai đoạn tạo nền 1: Yêu cầu đặt ra:

    • Vững chải các lối tấn cơ bản (đứng đúng tư thế, di chuyển nhan nhẹn, thăng bằng, khuôn phép).

    • Nhuần nhuyễn và cách phát lực qua các lối đấm, chém đá... (nhanh mạnh, chính xác).

    • Biết áp dụng 3 lối ngã cơ bảøn (ngữa, ngang, dọc) và một lối nhào lộn chống tay.

Trong giai đoạn tạo nền 2 và 3 (mỗi giai đoạn 6 tháng) ta tăng thời lượng luyện tập về thuật lên và giảm bớt một số bài tập về cơ bắp như bài con tôm, lăn ngựa gỗ, dành thời gian vào việc rèn luyện đối kháng và một số bài tập thể lực khác.

Trong phạm vi bài này chúng tôi không muốn nêu ra một giáo trình mẫu, mà chỉ có tính phân tích, gợi ý để các vị võ sư, huấn luyện viên phụ trách lớp tuỳ theo tình hình cụ thể của đối tượng dự lớp tự thực hiện một giáo trình thật phù hợp, nói lên tính khoa học, hầu nâng cao hiệu qủa huấn luyện, xây dựng được nền tảng thật vững chắc cho võ sinh, chiếm được cảm tình của quần chúng.

    C./ GIÁO ÁN: 

Suốt giáo trình 6 tháng gồm 72 tiết học (chương trình phổ cập) ta cố gắng sắp xếp sao cho kết thúc chương trình vào tiết học thứ 60 vì chừa 12 tiết để ôn luyện, gọt dũa hầu chuẩn bị cho võ sinh thi thăng cấp.

Như vậy ta hình thành được những đề mục chính cho từng buổi tập, và đó cũng là đề tài cho mỗi giáo án,căn cứ trên đề tài đó. HLV phụ trách soạn ra một giáo án thích hợp để các nội dung luyện tập được bố trí hợp lý, liên kết với nhau suốt tiết học, tránh tình trạng giờ chót, gây nhàm chán hoặc khối lượng vận động qúa nhiều, gây mệt mỏi vô ích vì sự thiếu chuẩn bị của người phụ trách.
Một giáo án thường được soạn trên dàn bài chung:

1.      Khởi động: (2 phần)

  1. Khởi động chung 

  2. Khởi động chuyên môn.

2.      Trọng động:

Ði vào những bài tập chính có tính chất dùng sức như đòn chiến lược, đòn cơ bản, bài song luyện, quyền, đòn chân...

3.      Thư giản hồi sức - học đòn mới:

4.      Tập hổ trợ:

Luyện cơ bắp, gân cốt, sức bền ...

Ðây là giáo án của giai đoạn tạo nền, ta có thể áp dụng đến chương trình Lam Ðai III Cấp. Sang Huyền Ðai sẽ dùng một giáo án theo mẫu khác, mục đích chuyển hướng huấn luyện từ chiều rộng sang chiếu sâu phục vụ cho yêu cầu ngày càng cao của bước tiến triển nghệ thuật, chuẩn bị cho người tập trở thành người dạy, nhưng đó là phần sau.

Xem tiếp trang kế

 

 


 

..