PHẦN II:
VOVINAM
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TINH THẦN DÂN TỘC THEO CHIỀU HƯỚNG NÀO.
Ngày nay, với nhịp độ phát triển mau lẹ của khoa học kỹ thuật, thế giới đang được thu hẹp dần. Ðịa giới và khoảng cách của các quốc gia không còn đáng kể. Trong vài thập niên gần đây, quốc tếù đang có khuynh hướng tập trung một số quốc gia trong cùng khu vực tạo thành các khối cộng đồng có chung những quyền lợi và nghĩa vụ về kinh tế chính trị, xã hội và thậm chí cả văn hóa nữa, nhằm đáp ứng nhu cầu sống càng ngày càng cao và đa dạng, để điều giải các mối xung đột, mâu thuẩn giữa các quốc gia trong cùng, cũng như để chuẩn bị tiềm tàng và thực lực trong các cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các khối kinh tế lớn trên thế
giới.
Do đó khuynh hướng quốc tế hóa dân tộc để hình thành các khối cộng đồng chung - vượt ngoài phạm trù của các quốc gia - đang có chiều hướng phát triển trong xã hội quốc tế hiện nay.
Ngược lại khuynh hướng trên, cũng có một số quốc gia, một số dân tộc đang dấy lên một phong trào mệnh danh là chủ nghĩa dân tộc để dành độc lập, tự do, bình đẳng .. Muốn tách rời khỏi các hình thức quốc gia hoặc các liên bang đã được xác lập từ lâu đời. Ví dụ như tình trạng đòi tự trị hiện nay của các dân tộc, các nước Cộng Hòa ở Liên Xô, Trung Quốc hay Nam Tư ...
Trước hai thực trạng của tình hình quốc tế hiện hữu, nhận định của chúng ta như thế nào? Môn phái Vovinam luôn đề cao, cổ súy cho việc xây dựng và phát triển tinh thần dân tộc, như vậy có phải là đã chọn khuynh hướng thứ hai hay không ? Hơn nữa, chúng ta xây dựng và phát triển tinh thần dân tộc theo chiều hướng nào ?
Ðiều có thể khẳng định trước tiên là chúng ta không bao giờ chấp nhận một chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, chỉ biết có quyền lợi riêng tư của dân tộc hay quốc gia mình. Trong mối quan hệ quốc tế ngày nay, không một dân tộc nào có thể đơn độc mà phát riển được. Tuy nhiên, chúng ta cũng không hoàn toàn tán đồng khuynh hướng thứ nhất, chỉ biết phục vụ cho quyền lợi của các khối cộng đồng chung, mà quên đi hoặc xem nhẹ bổn phận đối với sự phát triển của quốc gia hay dân tộc mình. Ngoài ra, ở một khía cạnh khác, chúng ta cũng cần cảnh giác một số thế lực quốc tế với cái võ hào nhoáng bên ngoài, và thường nhân danh những chiêu bài tốt đẹp để thực hiện âm mưu áp đặt các dân tộc nhược tiểu hầu tạo một vương quyền cho riêng một tập thể, một dân tộc hay một quốc gia đi ngược lại đà tiến hóa và truyền thống của các dân tộc nhỏ bé khác trong vùng.
Trường hợp này, cái gọi là tinh thần dân tộc mà mọi
người cho là hẹp hòi, thiển cận có phải chăng là lời kêu gọi thiêng liêng, khẩn thiết, là sự đối kháng dũng mãnh đầy chính nghĩa, là vũ khí tinh thần trong cuộc đối đầu không cân sức, chỉ mong những quyền sống căn bản được tôn trọng phù hợp với Tuyên Ngôn Quốc Tề Nhân Quyền của
Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, và trong trào lưu dân chủ của cả nhân loại hiện nay chăng ?
Như vậy, nếu chỉ ở vào 1 torng 2 khuynh hướng trên là chúng ta đã tự đặt mình vào một cuộc đối kháng. Phối triển hai quan niệm đó sao cho đúng lúc, đúng nơi để tìm phương sách tự tồn và tự tiến hợp lý cho dân tộc. Ðó chính là việc thể hiện và ứng dụng nguyên lý Cương Nhu Phối Triển của Vovinam trong việc xây dựng và phát triển tinh thần dân tộc.
Ðến đây, để sáng tỏ thêm vấn đề, thiết tưởng chúng ta cũng nên tìm hiểu và định nghĩa qua về từ ngữ DânTộc.
Theo định nghĩa ban đầu thì dân tộc là những người cùng sống trong một tập thể, dưới một thể chế và có cùng một số quyền lợi hoặc bổn phận được pháp luật quy định và công nhận.
Tất nhiên, cùng với thời
gian, sự định nghĩa này dần dà đã thay đổi đi ít nhiều. Khởi đầu, trong các tổ chức xã hội sơ đẳng, dân tộc chỉ gồm những người họ hàng thân thuộc sống thành từng gia đnh riêng biệt. Mỗi gia đình đều tự quản, tự cung, tự cấp. Sự hợp quần giữa các gia đình này thật hãn hữu. Nếu có, cũng chỉ trong một thời gian ngắn, với các mục đích cụ thể như săn bắn chung ... và suốt thời gian này họ chỉ chấp nhận một số quy ước thật đơn giản mà thôi, để rồi sau đó lại trở về với đời sống độc lập cố hữu của mỗi gia đình.
Dần dà nền tảng gia đình được phát triển thành thị tộc.
Ðây là một hình thái xã hội có tính liên tục và cổ xưa nhất của nhân loại. Một nhóm gia đình sống tụ tập, quây quần bên nhau trên cùng một khu đất, dưới quyền cai trị của một Tộc Trường. Cùng thờ một vật Tổ, cùng chấp nhận một số luật lệ, tập tục cần thiết để duy trì sự sinh hoạt chung. Trong cuộc sống thường ngày, ý thức cần thiết về sự hợp quần để tồn tại được hình thành dần và ngày một nâng cao, phát triển. Ðó là tinh thần Thân tộc - khởi điểm của tinh thần dân tộc sau này.
Với quy luật phát triển tự nhiên, theo thời gian những thị tộc lân cận có mối quan hệ lâu dài dần dà được thống nhất lại để tạo thành các bộ tộc (hay bộ lạc). Dân số trong các bộ tộc
ngày một đông. Nhu cầu ngày một cao và nhiều hơn đòi hỏi đất đai canh tác và các khu vực săn bắn lớn hơn, rộng rãi hơn. Thêm vào đó là những mâu thuẫn nẩy sinh từ sự khác biệt về chủng tộc, tín ngưỡng, phong tục v.v... giữa các bộ tộc, đã là những nguyên nhân phát sinh chiến tranh giữa các bộ tộc. Những bộ lạc lớn hùng mạnh hơn thôn tính dần các bộ lạc nhỏ. Tộc trưởng giờ đây đã trở thành Lãnh Chúa quyền uy và trong lãnh địa của ông ta đã có nhiều tộc đẳng khác nhau. Ðây là giai đoạn quốc gia sơ khai. Hai chử dân tộc trong giai đoạn này đã không còn mang ý nghĩa của một giòng họ thuần nhất nữa. Nó đã khoác trên mình ý nghĩa là người dân của một quốc gia hay một triều đại hùng mạnh. Ví dụ như tộc Hán, Tộc Mãn, tộc Việt v.v.
Kế tiếp là giai đoạn quốc gia hoàn chỉnh. Lúc này các lãnh chúa đã chinh phục được các bộ tộc rất xa xôi và khác biệt về mọi hình thức từ ngôn ngữ, chủng tộc đến phong tục tập quán, tìn ngững v.v.. Họ đã biết dùng thủ thuật chính trị để đồng hóa dần các dân tộc bị chiếm đóng. Hai chử dân tộc lúc này lại được mang hai ý nghĩa khác nhau. Nghĩa hẹp nó biểu hiện cho một quần thể cá biệt trong nhiều tập thể của cộng đồng dân tộc. Vì dụ như dân tộc Kinh, Mường, Mán, Tày, Nùng v.v. trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Nghĩa rộng hơn nó bao gồm tất cả các tập thể dân tộc trong cộng đồng quốc gia này để phân biệt với các cộng đồng quốc gia khác. Vì dụ: Tất cả các dân tộc Kinh, Mường, Mán, Tày Nùng
... Kể trên đều được gọi chung là dân tộc Việt Nam để phân biệt với các dân tộc Trung Hoa, Ấn Ðộ hay Nhật, Pháp.
Tinh thần dân tộc - nền tảng cai trị của các xã hội thị tộc, bộ tộc - được thay thế bằng tinh thần pháp trị (hiến pháp, luật lệ ...) trong các xã hội quốc gia Quốc gia càng hùng mạnh, thịnh vượng thì các nguyên tắc,thể chế lại càng hết sức chặt chẻ, hợp lý (ở một mức đột nào đó) và mọi người dân phải có ý thức tôn trọng tuân thủ. Nhận thức về sự tồn tại chung, cùng những tình tự và truyền thống dân tộc được phát sinh và tích lũy trong quá trình dựng nước, cũng như sự gắn bó mật thiết về quyền lợi và nghĩa vụ chung đối với đất nước ...đã là mối dây đan kết mọi người dân trong cùng một quốc gia, tuy vô hình song hết sức thiêng liêng, cần thiết cho bất cứ một dân tộc nào. Ðó chính là tinh thần dân tộc.
Cùng với các kỷ thuật truyền thông, vận chuyển hiện đại ngày nay, và sự thoái trào của các cuộc đấu tranh ý htức hệ trên phạm vi toàn cầu, đã góp phần đẩy mạnh việc giao lưu, tiếp xúc giũa các dân tộc có những nền văn hoá,
văn minh tinh thần khác nhau ngày một sâu rộng hơn. Thời đại chúng ta đang chứng kiến sự thay đổi sâu sắc của những học thuyết, định luật tưởng chừng bất biến, cũng như việc hình thành và phát triển một nền văn hoá thế giời. Ðó không phải là một tập hợp bao gồm tất cả nền văn hóa của các nước cộng lại, mà là nền văn hoá thế giới mang tính chất chung, có sức sống và quy luật vận động riêng.
Như vậy, trong một tương lai không xa, người ta sẽ định nghĩa hai chử dân tộc ra sao ? Và trong nền văn hoá thế giới, truyền thống và nét đặc thù của các dân tộc sẽ được sàng lọc như thế nào ? Tất nhiên một yếu tố độc đáo trong tinh thần của một dân tộc n ào đó có thể sẽ trở thành tài sản chung của nhân loại và có ảnh hưởng đến nền văn hoá của các dân tộc khác. Việc này nếu có tất yếu không phải là do bị áp đặt hoặc ảnh hưởng (kinh tế, chính trị, quân sự) của dân tộc đó, mà chính là vì yếu tố đó phổ biến, mang tính chất tốt đẹp chung cho các dân tộc. Ngược lại, tất sẽ nãy sinh đối kháng.
Như phần trên chúng ta đã khẳng định, VOVINAM không chấp nhận tinh thần dân tộc hẹp hòi, thiển cận hay những tinh thần cực đoan khác như: dân tộc quá khích, dân tộc siêu đẳng hay phi dân tộc. Vì nếu chọn một tinh thần dân tộc nào trong các loại này, là chúng ta đã ở một cực đoan này so với cực đoan khác, và điều này hoàn toàn trái ngược với tinh thần Cương Nhu phối triển. Hơn nữa, thực
chất và giá trị của những tinh thần này cũng không giúp ích gì được cho việc xây dựng và phát triển dất nước. Nếu không muốn nói đó là nguyên nhân chính kiềm hãm sức sống và sự thăng tiền của dân tộc, đưa đất nước đến nghèo nàn, lạc hậu. tình trạng chậm tiến, thoái hóa của dân tộc ta hiện nay là một bài học đắt giá thể hiện quan điểm sai lầm của những triều đại đã qua, trong việc áp dụng một tinh thần dân tộc cực đoan làm đường lối lãnh đạo, điều hành đất nước.
Sự sống theo triết học Ðông Phương - được hình thành từ hai thành tố Âm - Dương. Một trong những đặc tính của sự sống là liên tục chuyển động. sức chuyển động được tạo nên bởi hai lực qua lại ngược chiều. Do đó, nếu hai lực vận động cân bằng sẽ tạo nên sự chuyển động tốt, ngược lại sẽ gây bế tắc. Sự sống hình thành và phát triển tốt là do Âm - Dương điều hòa. Ở lãnh vực kinh tế, thị trường được hình thành và chuyển động tốt khi hai lực Cung - Cầu quân bình. Ðó là quy luật vận động tất yếu. Hai ngẫu lực Âm - Dương, Cung - Cầu nếu đối kháng để triệt tiêu lẫn nhau thì không còn sự sống và thị trường sẽ hổn loạn, mất ổn định nói gì đến phát triển. Ngược lại, nếu chỉ có duy nhất một thành tố Âm hoặc Dương, một lực Cung hay Cầu thì làm gì có sự sống và thị trường. Do vậy, với nguyên lý Cương Nhu phối triển sự sống hình thành và phát triển, thị trường chuyển động và ổn định, cũng như ở lãnh vực khác của xã hội và đời sống. Tóm lại, chúng ta có thể rút ra hai nhận xét sau:
- Sự đối kháng là quy luật tất yếu trong đời sống
- Sự đối kháng phải được hóa giải bằng tinh thần và nguyên lý Cương Nhu phối triển mới tạo được giá trị và lợi ích tốt đẹp cho đời sống, nếu không sẽ triệt tiêu lẫn nhau.
Với nhận định trên. VOVINAM không chủ trương xây dựng và phát triển tinh thần dân tộc trên quan niệm bách chiến bách thắng, anh hùng đệ nhất thiên hạ hay thiên hạ đệ nhất gia. Những quan niệm này đều xuất phát từ tinh thần dân tộc cực đoan quá khích hay siêu đẳng. Ở một góc độ nào đó, quan niệm này là một nguồn động lực tinh thần thiết yếu phù hợp trong các cuộc chiến tranh vệ quốc đầy đủ chính nghĩa dân tộc để dành quyền sống còn cho đất nước, chớ tuyệt nhiên không thể xem đó là đường lối lãnh đạo trong việc xây dựng và phát triển đất nước được.
Tinh thần dân tộc VOVINAM luôn vượt lên trên mọi ranh giới, mọi phân biệt kỳ thị, nhưng tuyệt đối không phải để tranh đoạt xâm chiếm các dân tộc khác. Vượt cao để thấy được những thấp kém của con người, hầu tìm cách nâng đỡ và hướng dẫn để mọi người cùng vươn cao lên được như mình. Vì có ở trên cao mới nhìn thấy rõ chổ thấp. Có điều kiện mới có thể giúp đỡ, hổ trợ cho người. VOVINAM luôn mong muốn được cống hiến những thành tựu tốt đẹp nhất của mình cho mọi người, mọi dân tộc. Tư tưởng này cũng đã được thể hiện rất rõ qua quan niệm sống của người môn sinh VOVINAM đó là: Sống - Giúp người khác Sống - và Sống cho người khác.
Với chủ thuyết Cách Mạng Tâm thân, VOVINAM nhằm đào tạo những con người có cao vọng hợp lý, đầy đủ TÍNH - KHÍ - TÀI, luôn làm chủ được tư tưởng và hành vi trong đời sống để tự tiến, giúp tiến và hiến ích. Những người công dân với ý thức trách nhiệm cao trong việc gìn giữ, nâng cao và phát triển bản sắc đặc thù của dân tộc mình đóng góp chung vào nên văn minh nhân loại.
Ðể thực hiện quan điểm trên, VOVINAM chủ trương xây dựng và phát triển tinh thần dân tộc theo 5 tiêu hướng căn bản sau đây:
- TINH THẦN TỰ CHỦ:
Làm chủ được ý thức, tư tưởng và hành vi của mình trong đời sống. Thực hiện tinh thần tự lập tự cường không nhờ vả ỷ lại để giữ được thái độ sống trung thực, độc lập trong việc công cũng như tư. Làm chủ được tình cảm và ước vọng. Biết định hướng ước vọng phù hợp với khả năng cùng hoàn cảnh thực tế, và cố gắng thực hiện thành công ước vọng đó. Quan niệm Không thành công thì thành nhân chỉ là niềm an ủi tinh thần cho những người bất đắc chí. Người môn sinh VOVINAM, với tinh thần tự chủ phải biết định hướng ước vọng của mình,. Thà thành công trong việc nhỏ hơn là thất bại trong việc lớn ngoài khả năng và hoàn cảnh. Muốn lên cao phải bước từ thấp. Nhiều thành quả nhỏ tích lũy sẽ thành công nhiệp lớn. Một tập thể nhiều anh tài nhưng không biết lượng sức mà luôn thất bại thì tập thể đó khó có tương lai.
Trong quá trình dựng nước của dân tộc Việt đã xuất hiện biết bao tấm gương Anh Hùng, Kỳ Nữ. Hưng Ðạo Ðại Vương Trần Quốc Tuấn là một trong các tấm gương vĩ đại, một bài học lớn,thể hiện sâu sắc tinh thần tự chủ cao độ của cả dân tộc. Với câu nói bất hủ: Nếu Bệ Hạ muốn hàng xin hãy chém đầu thần trước đã, thể hiện lòng quyềt tâm vào vệ nền độc lập, tự chủ cho dân tộc. Ngoài tài thao lược của một nhà quân sự thiên tài, Ngài đã biết vượt lên trên những tham vọng thế thường, chế ngự được những thù hận nhỏ nhen của gia đình và dòng tộc, chủ động hòa giải các mối hiềm khích với những thân vương nhà Trần, đặt quyền lợi và sự tồn vong của đất nước lên trên hết, nêu cao đức tự chủ sáng ngời cho sự đoàn kết toàn dân. Ðây là một trong những tác nhân chính yếu mang lại thắng lợi trong 3 cuộc chiến tranh vệ quốc chống đế quốc Mông - Nguyên, một đề quốc hùng mạnh vào bậc nhất ở thế kỷ thứ 13.
Tinh thần tự chủ còn thể hiện ở chổ phải biết dừng lại hợp thời đúng lúc. Thói thường người ta thường nhân danh những mục tiêu cao thượng, tốt đẹp - còn mãi ở đâu đâu - để sẳn sàng thực hiện và biện minh cho các hành động xấu xa tệ hại trái ngươc với mục tiêu tốt đẹp ban đầu. Không thể vì muốn đạt mục đích vội vã mà hành động với bất cứ giá nào. Các biện pháp hay phương tiện phải thể hiện được tính chất tốt đẹp, hướng thượng của cứu cánh muốn đạt tới. Do đó, phải biết chủ động dừng lại đúng lúc đừng để bị trượt đà. Quan niệm CÔNG THÀNH -THÂN THOÁI cũng là một hình thức tự chủ đúng mức khi đã tới đỉnh vinh quang.
- TÍNH THUẬN HÒA;
Tức thuận Thiên - Hòa Nhân. Thuận theo mệnh trời, Hòa với Lòng Người, Hợp với hoàn cảnh. Vạn vật có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Ðông, mùa nào thích nghi thức ấy. Thời tiết có mưa, nắng. Nắng thì phơi phóng, mưa thì gieo cấy. Ngày làm đêm nghỉ. Nóng dùng quạt, lạnh đắp chăn ... Nói chung không trái thời nghịch tiết thì bỏ công sức ít mà thu hoạch nhiều. Sống thuận hời, hợp tiết và biết vui với cảnh ngộ thì thư thái, an nhiên, sức khỏe tăng tiến, nâng cao được tuổi thọ.
Tính thuận hòa của người mộn sinh VOVINAM là không bao giờ xây dựng trên nghịch lý, trên đã phá hay đối kháng. Thuận thời thì làm, chưa thuận thì ngưng. Hợp tính, hợp tình thì cộng tác làm việc gắn bó chặt chẻ, chưa hợp thì việc ai nấy làm, cùng gắng sức thi đua trên tinh thần võ đạo chân chính, không chê bai đã kích, hằn học dèm pha. Luôn chú trọng đến việc trồng cây mới, chớ không phá hủy cây cũ - vì một khi cây mới đã đử sức vươn lên, thì cây cũ mục đã tự hủy rồi, hoặc lúc đó nếu cần chỉ kẽ lay sẽ đổ, đâu cần tốn sức.
- ÐỨC NHẪN NHỊN:
Kiên nhẫn chịu đựng mọi thử thách, mọi nghịch lý trong cuộc sống để hoán cải, vượt thắng hầu vươn lên. Ðây không phải là một tính yếu hèn hay nhu nhược mà chính là tinh thần đại dũng của ngưới có chí hướng. Biết chịu đựng những việc nhỏ để đạt các mục tiêu lớn. Hưng Ðạo Ðại Vương kiên nhẫn chịu đựng từ thất baị này đến thất bại khác, triệt hoái hết trận này đến trận khác, chủ đích để tránh thế mạnh ban đầu của đối phương hầu bảo toàn lực lượng đánh những trận chiến lược dành thắng lợi sau cùng. Bình Ðịnh Vương Lê Lợi với quyết tâm sắt đá đã biết nhẫn nhịn làm lại, làm lại mãi, để cuối cùng dành được chiến thắng toàn vẹn cho dân tộc sau 10 năm thất bại liên tục.
- DÂN CHỦ VÀ BÌNH ÐẲNG:
Trong lịch sử dân tộc ta tinh thần dân chủ bình đẳng đã từng được phát huy cao độ ở triều đại nhà Trần qua cuộc Hội Nghị Diên Hồng nổi tiếng. Vì dân là chủ, nên khi hữu sự hoặc vận nước lâm nguy thì người dân được quyền ngồi bàn luận việc nước ngang với các thân vương, đại thần, quý tộc của triều đình. Vì ý dân là ý trời, thuận lòng dân thì còn, nghịch lòng dân thì mất.
Bình đẳng để mọi người đều có cơ hội vươn lên thoát khỏi cảnh nghèo hèn bằng chính tài năng thực sự của mình. Dân tộc ta vốn có truyền thống trọng người có thực tài, thực đức chớ không câu nệ giai cấp xuất thân. Do đó, từ thằng bé chăn trâu, hoặc con của Mõ - các giai cấp cùng đinh nhất trong xã hội Việt Nam xưa - đến con cái các thân vương, công hầu khanh tướng đều có quyền dự thí và được trọng dụng như nhau nếu có tài đức thực sự. Dân chủ phải đi đôi với bình đẳng. Vì Dân chủ mà thiếu Bình đẳng chỉ là dân chủ giả hiệu.
Trong một tập thể cũng vậy, người có tài đức phải được trọng dụng đúng với khả năng và công việc. Người nào việc đó. Có được như vậy, mới phát huy hết khả năng và tâm trí của mọi người và hạn chế được nạn bè phái làm suy yếu sức mạnh của tập thể.
- TIN TƯỞNG VÀ HY VỌNG:
Trong đời sống thường nhật dù có gặp bất cứ cảnh ngộ bi đát nào đi nữa, con người cũng phải có niềm tin tưởng và hy vọng vào sự tốt đẹp ở tương lai. Vạn vật chuyển hóa không ngừng, sáng rồi lại tối, đêm rồi lại ngày, xấu rồi lại tốt, thất bại rồi thành công ... và ngược lại. Ðiều quan trọng là chúng ta phải nắm bắt định hướng các quy luật đó bằng tinh thần thắng không kêu bại không nản trong đời sống.
Thiếu tin tưởng và hy vọng, con ngời sẽ mất định hướng dễ rơi vào cực đoan này hay cực đoan khác,. Hoặc buông thả
hoàn toàn để trở thành nạn nhân cho những thói hư tật xấu phù phiếm, trụy lạc. Hoặc quá khích, cuồng loạn mà trở thành những phần tử nguy hiểm của xã hội cần phải loại trừ.
Với sứ vụ phát triển tinh thần võ đạo, chúng ta hoàn toàn vững tin vào mọi việc làm tốt đẹp mang tính chất xây dựng, cống hiến với đầy thành tâm và tín nghĩa. Tâm thành nên khen tặng
mà không su mị, a dua, phê phán nhưng không ghét bỏ. Gìn giữ thủy chung, tín nghĩa với mọi gnười. Do đó, chúng ta hoàn toàn tin tưởng và hy vọng vào tương lai tốt đẹp của dân tộc ta, môn phái ta cho dầu hiện tại vẫn còn nhiều gian nan trắc trở.
Trên đây là 5 đức tính căn bản trong truyền thống dân tộc Việt được VOVINAM triển khai, nâng cao và ứng dụng trong việc xây dựng một nền tảng tinh thần chung cho nhân loại. Các đức tính này phổ biến và mang tính chất hướng thượng phù hợp với mọi dân tộc.
Song song với việc huấn luyện và phát triển các kỷ thuật võ học, VOVINAM còn truyền thụ cho các môn sinh - không phân biệt sắc dân, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo ... - ý thức tự tu luyện tinh thần dân tộc mình, một cách đúng đắng để khai triển và phát huy được cái đặc thù của mỗi dân tộc. Không để nó bị hòa tan trong cộng đồng nhân loại, cũng như sẳng sàng chấp nhận những tinh thần dị biệt của các dân tộc khác để cùng tồn tại, và cùng thụ hưởng những tinh hoa tốt đẹp của một nền văn hoá chân chính mang lại. Song điều quan trọng hơn cả là cùng phát hiện, nâng cao và dung hòa các yếùu tố độc đáo, đặc thù trong bản sắc của các dân tộc thành tài sản chung của con ngưới, của nhân loại. Ðó mới là đích thực là một nền văn hóa thế giới mang tính chất nhân bản cho mọi dân tộc trên hành tinh này.
Và đó cũng chính là di chỉ của Cố Võ Sư Sáng Tổ được môn phái VOVINAM chúng ta vận dụng để xây dựng và phát triển tinh thần dân tộc từ trước đến nay. Và là khởi điểm để tiến tới và hình thành một nền Nhân Võ Ðạo ở tương lai - một võ đạo thực sự cho Con Người.
Vấn đề dân tộc rất rộng lớn và bao quát, trên đây chỉ là một vài nhận định tổng quát với cương vị là môn sinh VOVINAM, chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Rất mong được sự nhiệt tình đóng góp ý kiến của quý vị VS - HLV và các bạn môn sinh về vấn đề của dân tộc để tiến trình Nhân Võ Ðạo của môn phái chúng ta được ngày thêm sáng tỏ.
Xem tiếp trang kế
